PRO-SCORE1000: phương pháp và công thức
Chỉ số tham khảo của ProFind · phiên bản 2.0
Đây là chỉ số tham khảo, không phải xếp hạng chính thức. Không thay thế đánh giá của bất kỳ hội đồng nào và không nên là tiêu chí duy nhất trong tuyển dụng, xét duyệt, bổ nhiệm hay phân bổ nguồn lực. Nhà khoa học có thể yêu cầu ẩn điểm và huy hiệu.
Ý tưởng do Viện Khoa học Giáo dục và Kinh tế Đông Nam Á (ISA Việt Nam) và tác giả Lương Việt Hoàng đề xuất. Phiên bản 2.0, tính tự động từ dữ liệu công khai (OpenAlex, ORCID, Crossref).
Nguyên tắc thiết kế
- Nhiều chỉ báo, không một con số duy nhất. Bảy chỉ báo bổ sung nhau, theo tinh thần DORA và Leiden Manifesto.
- So cùng ngành. Mỗi chỉ báo là bách phân vị trong ngành chính, vì mỗi ngành có văn hóa trích dẫn khác nhau.
- Không phạt khi thiếu dữ liệu. Dữ liệu ít thì điểm co về trung bình ngành, không rơi xuống đáy.
- Chống thổi phồng. Cắt trần trích dẫn mỗi công trình, trần sản lượng, loại hồ sơ nghi gộp nhầm khỏi xếp hạng.
Công thức
PRO-SCORE1000 = trung bình của 1000 điểm, mỗi điểm do một cấu hình trọng số chấm: Điểm(cấu hình k) = 100 × Σ wₖᵢ × chỉ báoᵢ (7 chỉ báo, Σ wₖᵢ = 1)
Trọng số trung bình của hội đồng mô phỏng (kèm độ lệch chuẩn). Mỗi chỉ báo nằm trong khoảng 0 đến 1; điểm cuối nhân 100.
Bảy chỉ báo
- Tác động · 42,6% (±10,3). Công trình được giới khoa học dùng đến mức nào.
40% tổng trích dẫn (mỗi công trình bị cắt trần ở P99 của ngành để một bài nhóm lớn không kéo cả hồ sơ) + 30% chỉ số h + 30% tỉ lệ công trình có từ 10 trích dẫn trở lên (làm trơn về trung bình ngành). - Sản lượng · 9,8% (±4,2). Khối lượng công bố bền bỉ, không thưởng việc chia nhỏ bài.
Số công trình theo thang log, có trần ở bách phân vị 95. - Chủ đạo · 9,7% (±4,7). Vai trò dẫn dắt: tác giả đứng đầu hoặc liên hệ.
Tỉ lệ công trình chủ đạo trên các công trình xác định được vai trò; làm trơn Bayes (k = 8) về trung bình ngành, tối đa 0,85. Vai trò chưa rõ không bị tính là kém. - Chất lượng · 6,8% (±4,6). Nơi công bố, nhìn qua hạng tạp chí Scopus (Q1 đến Q4).
Trung bình hạng Q (Q1 = 1; Q2 = 0,75; Q3 = 0,5; Q4 = 0,25) trên công trình có hạng, làm trơn (k = 5) về trung bình ngành. Chỉ chiếm 10% nên không biến hệ số tạp chí thành thước đo chính (theo DORA). - Đà phát triển · 19,5% (±8,7). Đang đóng góp đến đâu trong 5 năm gần nhất.
50% bách phân vị trích dẫn và 50% bách phân vị số công trình của các công trình 5 năm gần nhất. Giúp nhà khoa học trẻ không bị thâm niên lấn át. - Đều đặn · 8,9% (±4,6). Công bố liên tục chứ không chỉ một vài năm.
(Số năm có công bố + 1,2) ÷ (số năm hoạt động + 2). - Ghi nhận · 2,6% (±2,2). Được cộng đồng quốc tế vinh danh.
Thuộc danh sách Top 2% nhà khoa học thế giới của Elsevier (Ioannidis và cộng sự). Chỉ 3% để không trùng đếm với tác động.
Cách vận hành 1000 cấu hình mô phỏng
- Sinh hồ sơ. Mỗi cấu hình được gán ngẫu nhiên (hạt giống cố định, kết quả tái lập được) một lĩnh vực (6 nhóm), giai đoạn sự nghiệp (3), khu vực (4) và lập trường đánh giá (3: thư mục học, đánh giá có trách nhiệm theo DORA, quản lý nghiên cứu).
- Sinh trọng số. Xuất phát từ trọng số của bản v1 (đã được 10 vai trò chuyên môn mô phỏng phản biện), điều chỉnh theo khuynh hướng đã ghi nhận trong tài liệu rồi lấy mẫu Dirichlet để mỗi cấu hình khác nhau.
- Chấm điểm. Mỗi cấu hình chấm mọi hồ sơ theo trọng số của mình; PRO-SCORE1000 là trung bình của 1000 điểm.
- Đo độ vững. Từ 1000 cách xếp hạng, ProFind báo khoảng điểm (P10 đến P90), khoảng hạng và độ vững của huy hiệu.
Hạt giống ngẫu nhiên: 20261007. Các hệ số điều chỉnh nằm trong mã nguồn (scripts/pro-panel.mjs) và là giả định của mô hình.
Chuẩn hóa và làm trơn
- Bách phân vị trong ngành chính. Mỗi người được so với những người cùng ngành (28 ngành). Ngành dưới 50 người được trộn với bách phân vị toàn hệ thống để điểm ổn định.
- Làm trơn Bayes. Với tỉ lệ dựa trên ít dữ liệu, điểm kéo về trung bình ngành: (số đếm + k × trung bình ngành) ÷ (số mẫu + k).
- Trần chống thổi phồng. Trích dẫn mỗi công trình bị cắt ở P99 của ngành; sản lượng có trần P95; hồ sơ nghi gộp nhầm nhiều người bị loại khỏi xếp hạng.
Phạm vi Việt Nam: quy tắc “liên kết chính”
ProFind là bảng tra cứu và xếp hạng dành riêng cho nhà khoa học của các trường, viện Việt Nam. Để PRO-SCORE1000 phản ánh đóng góp cho cộng đồng khoa học Việt Nam, một hồ sơ chỉ được xếp hạng khi liên kết chính của người đó ở Việt Nam.
Không áp dụng cho: hồ sơ chưa đủ dữ liệu cơ quan; hồ sơ trong danh sách Top 2% mục Việt Nam của Elsevier; hồ sơ được quản trị viên xác nhận là ngoại lệ (danh sách công khai trong mã nguồn, tệp data/vn-confirmed.json). Chủ hồ sơ có thể gửi đính chính.
Giới hạn này chỉ dành cho bảng Việt Nam. Nếu sau này ProFind mở rộng sang bảng phạm vi thế giới, bảng đó sẽ không có giới hạn này.
Cơ sở khoa học
- Đa liên kết ngày càng phổ biến. Tỉ lệ tác giả có nhiều liên kết cơ quan tăng từ khoảng 10% lên 16% kể từ 1996 (mẫu hơn 15 triệu tác giả, 40 quốc gia; Hottenrott, Rose & Lawson, 2021), và tác giả đa liên kết thường có mặt trong các công trình tác động cao (Hottenrott & Lawson, 2017). Vì vậy một tên cơ quan xuất hiện trên bài báo chưa đủ để kết luận người đó làm việc chính ở cơ quan đó.
- Liên kết phụ có thể được dùng để nâng thứ hạng cơ sở. Bhattacharjee (2011) ghi nhận một số trường đại học thuê bán thời gian các nhà khoa học được trích dẫn nhiều với điều kiện ghi tên trường là cơ quan thứ hai; Bornmann & Bauer (2015) phân tích hiện tượng này trong dữ liệu highlycited.com. Một bảng xếp hạng quốc gia không nên để liên kết phụ như vậy quyết định thứ hạng.
- Các tổ chức xếp hạng đã chuyển sang “liên kết chính”. Clarivate (Highly Cited Researchers) định nghĩa liên kết chính là cơ quan nơi nhà nghiên cứu sinh sống, giữ vị trí chính và thực hiện phần lớn công việc, thể hiện qua công bố gần đây; liên kết danh dự hoặc nghiên cứu viên không được coi là liên kết chính nếu không chứng minh được làm việc thường trực (Clarivate, 2023–2025).
- Vì sao đo bằng tỉ lệ công trình. OpenAlex không có dữ liệu hợp đồng hay nơi làm việc chính, nhưng cơ quan ghi trên từng công trình kiểm chứng được và bao trùm cả sự nghiệp. Tỉ lệ công trình mang liên kết Việt Nam là một xấp xỉ của “phần lớn công việc” trong định nghĩa trên.
Cách chọn ngưỡng
Bước 1, dữ liệu. Với 7.045 hồ sơ đủ dữ liệu cơ quan, phân bố “% công trình có liên kết tại Việt Nam” có hai cụm rõ: một cụm gần 0% (liên kết chính ở nước ngoài) và một cụm gần 100%, vùng giữa thưa hơn hẳn. Mô hình trộn hai phân phối Beta (thuật toán EM; Dempster, Laird & Rubin, 1977) cho thấy khoảng 77% hồ sơ thuộc cụm Việt Nam.
Trục ngang: 0% đến 100%, mỗi cột 5%; cột đậm là vùng dưới ngưỡng 20%.
Bước 2, hội đồng mô phỏng. 1.000 chuyên gia mô phỏng chia theo ba lập trường (bao trùm 30%, cân bằng 40%, chặt chẽ 30%). Mỗi người có mức coi trọng riêng giữa hai loại sai sót: loại nhầm người làm việc tại Việt Nam, hoặc đưa nhầm người có liên kết chính ở nước ngoài vào bảng; và chọn ngưỡng làm tổn thất kỳ vọng nhỏ nhất theo mô hình ở bước 1. Sau đó hội đồng bàn bạc 3 vòng kiểu Delphi (Dalkey & Helmer, 1963): mỗi người biết trung vị của hội đồng và điều chỉnh một phần ý kiến về phía đó (mô hình đồng thuận của French, 1956 và DeGroot, 1974).
| Nhóm / vòng | Trung vị (%) | Khoảng tứ phân vị (%) |
|---|---|---|
| Bao trùm (ưu tiên không bỏ sót người Việt công tác nước ngoài, nhà khoa học đa liên kết) · n = 300 | 35 | 29 – 40 |
| Cân bằng (hai loại sai sót nặng như nhau) · n = 400 | 44 | 38 – 51 |
| Chặt chẽ (ưu tiên bảng chỉ gồm người có liên kết chính tại Việt Nam) · n = 300 | 55 | 48 – 60 |
| Cả hội đồng, ý kiến ban đầu | 44 | 36 – 53 |
| Cả hội đồng, sau vòng 1 | 44 | 40,2 – 48,3 |
| Cả hội đồng, sau vòng 2 | 44 | 42,3 – 45,8 |
| Cả hội đồng, sau vòng 3 | 44 | 43,2 – 44,8 |
| Ngưỡng | Hồ sơ bị gắn nhãn | Loại nhầm (kỳ vọng) | Đưa nhầm (kỳ vọng) |
|---|---|---|---|
| Đang áp dụng: 20% | 996 | 16 | 623 |
| Đồng thuận mô phỏng: 44% | — | 147 | 270 |
Số hồ sơ bị gắn nhãn theo ngưỡng: 5% → 494; 10% → 737; 15% → 885; 20% → 996; 25% → 1.116; 30% → 1.203; 40% → 1.395; 50% → 1.607.
Kết luận. Ngưỡng ProFind đang áp dụng là 20%, thấp hơn khoảng đồng thuận của hội đồng mô phỏng (trung vị 44%, tứ phân vị 43,2–44,8%). Chọn ngưỡng thấp hơn trung vị nghĩa là ưu tiên không loại nhầm người làm việc tại Việt Nam; cái giá là một số hồ sơ có liên kết chính ở nước ngoài vẫn có thể được xếp hạng (xem bảng sai sót kỳ vọng). Ngưỡng sẽ được xem xét lại khi có ý kiến chuyên gia thật.
Lưu ý và giới hạn
- Hội đồng 1.000 chuyên gia ở đây là MÔ PHỎNG, không phải ý kiến của người thật. Bằng chứng lấy từ dữ liệu thật ở bước 1; phần giả định là cơ cấu lập trường và mức đánh đổi giữa hai loại sai sót (hạt giống 20261009, mã tại scripts/abroad-panel.mjs, tái lập được).
- Mô hình hai cụm là giả định; người mới chuyển về làm việc tại Việt Nam sau nhiều năm công bố ở nước ngoài, và người Việt công tác ở nước ngoài, có thể nằm ở vùng giữa hoặc vùng thấp. Do đó quy tắc có ngoại lệ do quản trị viên xác nhận và cho phép chủ hồ sơ gửi đính chính.
- Cơ quan ghi trên công trình phụ thuộc vào OpenAlex và có thể thiếu hoặc sai; công trình không có thông tin cơ quan không được tính.
Tài liệu tham khảo
- Bhattacharjee, Y. (2011). Saudi universities offer cash in exchange for academic prestige. Science, 334(6061), 1344–1345.
- Bornmann, L., & Bauer, J. (2015). Which of the world’s institutions employ the most highly cited researchers? An analysis of the data from highlycited.com. Journal of the Association for Information Science and Technology (arXiv:1407.2037).
- Clarivate (2023–2025). Highly Cited Researchers: methodology, FAQs and statement on researcher affiliations (clarivate.com/highly-cited-researchers).
- Dalkey, N., & Helmer, O. (1963). An experimental application of the Delphi method to the use of experts. Management Science, 9(3), 458–467.
- DeGroot, M. H. (1974). Reaching a consensus. Journal of the American Statistical Association, 69(345), 118–121.
- Dempster, A. P., Laird, N. M., & Rubin, D. B. (1977). Maximum likelihood from incomplete data via the EM algorithm. Journal of the Royal Statistical Society B, 39(1), 1–38.
- French, J. R. P. (1956). A formal theory of social power. Psychological Review, 63(3), 181–194.
- Hottenrott, H., & Lawson, C. (2017). A first look at multiple institutional affiliations: a study of authors in Germany, Japan and the UK. Scientometrics, 111(1), 285–295. doi:10.1007/s11192-017-2257-6
- Hottenrott, H., Rose, M. E., & Lawson, C. (2021). The rise of multiple institutional affiliations in academia. Journal of the Association for Information Science and Technology.
Xếp hạng và huy hiệu
Hồ sơ có từ 10 công trình và hoạt động từ 3 năm được xếp hạng toàn hệ thống theo PRO-SCORE1000 (đồng điểm thì đồng hạng). Hạng và huy hiệu được tính lại tự động mỗi lần dữ liệu cập nhật.
- Tinh hoa: Top 10
- Xuất sắc: Top 50
- Ưu tú: Top 100
- Nổi bật: Top 500
- Tiêu biểu: Top 1000
Giới hạn hiện tại
- Đây là mô phỏng: các cấu hình trọng số và hệ số điều chỉnh phản ánh giả định của người xây mô hình dựa trên tài liệu, không phải ý kiến thực của 1000 nhà nghiên cứu. Không nên trích PRO-SCORE1000 như kết quả khảo sát hay đồng thuận của cộng đồng học thuật.
- OpenAlex chưa cho số tác giả mỗi công trình nên chưa chia trích dẫn theo đóng góp, và chưa có năm bắt đầu sự nghiệp để chuẩn hóa theo thế hệ.
- Hạng Q và vai trò chỉ có ở một phần công trình; sách, chương sách, kỷ yếu và bằng sáng chế chưa được tính.
- Hồ sơ OpenAlex có thể gộp nhầm hoặc tách đôi một người; ngành chính suy ra từ tạp chí đã đăng.
- Hồ sơ có tỉ lệ công trình mang liên kết tại Việt Nam dưới ngưỡng quy định (theo OpenAlex, tối thiểu 15 công trình có ghi cơ quan) được gắn nhãn “Liên kết chính ở nước ngoài” và không xếp hạng; ngoại lệ do quản trị viên xác nhận. Xem mục “Phạm vi Việt Nam”.
- Điểm là thước đo tương đối giữa các hồ sơ trong ProFind, không dùng thay cho đánh giá chuyên môn.
Cách trích dẫn
Lương Việt Hoàng và Viện Khoa học Giáo dục và Kinh tế Đông Nam Á (ISA Việt Nam) (2026). PRO-SCORE1000 phiên bản 2.0 (mô phỏng 1000 cấu hình trọng số): chỉ số tham khảo đa chiều về tác động và đóng góp của nhà khoa học. ProFind, profind.isavn.edu.vn.Xem bản đầy đủ trong ứng dụng (kèm bảng hội đồng và huy hiệu)
Số liệu tổng hợp từ nguồn mở OpenAlex, ORCID, Crossref (cập nhật 2026-10-08). PRO-SCORE1000 là chỉ số tham khảo mô phỏng, không phải xếp hạng chính thức. Có thể còn thiếu sót; nhà khoa học tự xác thực và bổ sung hồ sơ trên ProFind.